Bệnh gút, còn gọi là bệnh thống phong hay bệnh viêm khớp do gút, Thường gặp ở nam giới tuổi trung niên trở lên. Chẩn đoán bệnh gút không khó, nhưng tuân thủ nghiêm túc chế độ điều trị mới là khó.
Bệnh
gút, còn gọi là bệnh thống phong hay bệnh viêm khớp do gút, Thường gặp ở nam
giới tuổi trung niên trở lên. Ở các nước phát triển, tỉ lệ mắc bệnh gút chiếm 1
- 2% dân số.
Ở
Việt Nam, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, cộng với chế độ dinh
dưỡng thiếu hợp lý, bệnh gút ngày càng phổ biến và tuổi mắc bệnh cũng ngày càng
trẻ hơn. Bệnh gút chủ yếu gặp ở nam giới. Bệnh cũng có yếu tố di truyền, nếu
trong gia đình bạn có người mắc bệnh gút thì bạn sẽ có nguy cơ bị bệnh này cao
hơn người khác.
Chẩn
đoán bệnh gút không khó
Bệnh
gút thường diễn biến qua 4 giai đoạn:
Giai
đoạn 1: tăng acid uric-máu không triệu chứng, diễn biến trong nhiều
năm.
Giai
đoạn 2: cơn gút cấp với sưng
đau ở khớp, thường là khỏi sau 3 - 10 ngày điều trị, nếu không điều trị thì các
cơn đau sẽ xuất hiện ngày càng nhiều và nặng hơn.
Giai
đoạn 3: bệnh gút giữa các cơn
gút cấp. Bệnh nhân không đau, khớp hoạt động bình thường.
Giai
đoạn 4: gút mạn tính với sự
lắng đọng tinh thể urate ở khớp, thận... Khớp bị biến dạng với hư hại xương và
sụn; bệnh nhân có thể bị viêm thận, sỏi thận, suy thận; xuất hiện các cục tophi
quanh khớp làm mất thẩm mỹ và có thể gây tàn phế.
Cơn
gút cấp có đặc điểm khởi phát đột ngột, thường vào ban đêm với biểu hiện sưng,
nóng, đỏ, đau dữ dội tại một hay nhiều khớp, thường gặp nhất ở khớp bàn - ngón
chân cái.
Bệnh
gút có thể ảnh hưởng đến các khớp khác như: mu bàn chân, cổ chân, gót, đầu gối,
gân gót, cổ tay, ngón tay, khuỷu.
Về
xét nghiệm, chọc hút dịch khớp rồi soi dưới kính hiển vi sẽ tìm thấy các tinh
thể urate; chụp X-quang có thể thấy hình ảnh hủy xương, tổn thương mặt khớp; xét
nghiệm máu có thể thấy nồng độ acid uric tăng cao. Tuy nhiên, trong cơn gút cấp,
nồng độ acid uric - máu có thể vẫn bình thường, do đó không sử dụng xét nghiệm
máu để loại trừ chẩn đoán gút cấp.
Tuân
thủ nghiêm túc chế độ điều trị mới khó
Có
ba nguyên tắc cần biết trong điều trị bệnh gút, đó là: chống viêm khớp trong đợt
cấp, dự phòng đợt cấp tái diễn, và hạ acid uric - máu sau khi đã qua đợt cấp dựa
vào chế độ ăn uống và dùng thuốc giúp giảm tổng hợp hoặc tăng đào thải acid
uric.
Theo
đó, những người bị tăng acid uric-máu nhưng không có biểu hiện viêm khớp thì chỉ
cần điều chỉnh chế độ ăn uống mà chưa cần phải dùng thuốc. Điều quan trọng nhất
trong điều trị bệnh gút để tránh cho bệnh không diễn biến nặng lên nhanh là
người bệnh cần phải luôn tuân thủ nghiêm ngặt các chỉ dẫn của thầy thuốc về chế
độ điều trị, bao gồm thuốc men và chế độ ăn uống, nghỉ ngơi.
Trong
thực tế, không ít người bị bệnh gút thường chỉ quan tâm đến bệnh và dùng thuốc
trong đợt cấp, sau đó thì ngưng, dẫn đến bệnh tiến triển nặng dần và gây ra các
biến chứng. Trong đợt gút cấp, người bệnh cần phải nghỉ ngơi tại giường, dùng
các thuốc kháng viêm không steroid và đặc biệt là dùng Colchicine (có tác dụng
chống viêm, giảm đau và giảm sưng trong các cơn gút cấp). Sau khi đã qua đợt
cấp, nghĩa là khi khớp đã hết sưng đau, người bệnh cần dùng thêm các thuốc giúp
làm hạ acid uric-máu như Allopurinol (có tác dụng ngăn ngừa sự tổng hợp acid
uric trong cơ thể, có thể dùng lâu dài), Probenecid (có tác dụng tăng cường sự
đào thải acid uric qua nước tiểu). Đặc biệt, trong suốt quá trình điều trị cũng
như về lâu dài, người bệnh cần tuân thủ nghiêm ngặt chế độ ăn kiêng dành cho
người bị bệnh gút. Ngoài ra, các bệnh nhân bị gút mạn tính cần được kiểm tra
chức năng thận và sỏi thận định kỳ. Béo phì là một yếu tố làm tăng nặng đối với
bệnh gút. Do đó, các bệnh nhân bị bệnh gút kèm béo phì cần phải cố gắng giảm
cân, thông qua chế độ ăn uống và tập luyện thể dục thể thao.
Có
một số trường hợp bệnh nhân gút cần được điều trị bằng phẫu thuật như: cắt bỏ
khối u tophi khi khối u quá lớn gây ảnh hưởng thẩm mỹ hoặc chức năng của chi
thể, mổ nội soi cắt lọc hoạt mạc viêm, nạo bỏ các tinh thể urate trong khớp,
thay khớp nhân tạo khi khớp đã bị bệnh gút phá hủy hoàn toàn.
Phòng
bệnh còn khó hơn
Ngày
nay, người ta đã biết rõ các nguyên nhân làm gia tăng bệnh gút trên toàn thế
giới, từ đó có thể đề phòng bệnh gút. Các nguyên nhân này bao gồm:

-
Ăn nhiều thực phẩm chứa purin như hải sản, các loại thịt có màu đỏ (thịt trâu,
bò, ngựa, dê, thịt thú rừng…), phủ tạng động vật (lưỡi, lòng, tim, gan, thận,
óc…), trứng gia cầm (nhất là các loại trứng đang phát triển thành phôi như trứng
vịt lộn), những thực phẩm giàu đạm khác (bao gồm đạm động vật như thịt heo, thịt
chó, thịt gà, thịt vịt… cá và các loại thủy sản như lươn, ếch…).
-
Uống nhiều bia, rượu mạnh, cà phê làm tăng tích lũy acid uric trong máu và làm
dễ lắng đọng urate tại khớp. Uống nhiều nước ngọt có ga làm tăng nguy cơ béo
phì. Do đó, người bị bệnh gút mạn tính nên uống nhiều nước, tối thiểu 2,5 - 3
lít nước mỗi ngày, nhất là nước khoáng không ga có độ kiềm cao sẽ giúp làm giảm
nồng độ acid uric trong nước tiểu, hạn chế sự kết tinh urate tại ống thận, từ đó
làm giảm nguy cơ bị sỏi thận.
-
Béo phì, cao huyết áp, rối loạn mỡ-máu là các yếu tố nguy cơ và đồng thời là các
bệnh lý thường đi kèm với bệnh gút, nếu kiểm soát tốt sẽ góp phần làm giảm nhẹ
triệu chứng gút.
-
Suy giảm chức năng thận làm giảm khả năng đào thải acid uric qua đường nước tiểu
và gây lắng đọng urate tại các khớp.
ThS.BS. NGUYỄN
ĐỨC THÀNH






0 nhận xét:
Đăng nhận xét